Tôi nhớ, khi còn đang đi học phổ thông ở quê thi thoảng chúng tôi có đi qua xã Hương Ngải. Lưu lại trong ký ức tôi đó là một làng cổ khá yên bình với độc một con đường chạy xuyên làng và những luỹ tre dài dặc xanh ngắt. Hoá ra, nếu bạn thật lòng về Hương Ngải một lần thì sẽ thấy cái ký ức đó của tôi thật nhợt nhạt và chẳng thấm là bao so với một dải đất hiếu học của vùng núi Tản sông Đà này.
1.
Thế là đã thành lệ, năm nào mỗi độ xuân về cây trồi nảy lộc mảnh đất "Xứ Đoài mây trắng" cũng đều quyến gọi bước chân tôi. Năm trước là Đường Lâm. Trước nữa là Thạch Xá với Chùa Tây Phương trầm mặc trên đỉnh đồi Câu Lậu. Còn năm ngoái là làng Bùng - quê hương của Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan. Năm nay, vẫn theo con đường cao tốc Láng -Hoà Lạc đang mở rộng, tôi đã về Hương Ngải (cách Trung tâm Hà Nội 25km) trong một buổi sáng mưa bụi và gió lạnh.
Làng Hương Ngải xưa có tên là Kẻ Ngái. Theo các cụ cao niên trong làng kể lại có tên Kẻ Ngái là bởi ngày xưa có rất nhiều cây ngái mọc xung quanh làng. Và theo một cát lý giải khác, cái tên Hương Ngải hôm nay cũng có "gốc gác" từ cây ngái dại quanh làng ấy. Chuyện rằng khi cây ngái nở hoa hương thơm lan toả khắp vùng nên dân gian gọi thành "Làng Hương Ngái", rồi chữ "Ngái" bị đọc chệch đi, đọc "ngọng" đi thành "Ngải". Thế là lâu ngày cái tên Hương Ngải dính chặt với làng.
Về Hương Ngải một lần bạn và tôi sẽ giật mình nhận ra đây chính là quê hương danh nhân Nguyễn Tử Siêu (1898 - 1965). Không có tên trong bia đá khắc nơi Văn chỉ, Nguyễn Tử Siêu lặng lẽ sống một cuộc đời tao nhã của ông giáo làng rồi viết sách y học và văn học. Tôi cứ nghĩ không biết có phải vì một cách sống khiêm nhường, lặng lẽ ấy mà ngày nay danh tiếng Nguyễn Tử Siêu mỗi khi nhắc đến nhiều người trong huyện Thạch Thất, trong tỉnh Hà Tây đều cảm thấy là lạ. Ngược dòng thời gian trở về với thập niên đầu thế kỷ XX, khi đó cái tên Nguyễn Tử Siêu đã được người Việt Nam trân trọng và riêng chính quyền Pháp thì luôn lưu ý tới những tác phẩm văn học của Nguyễn Tử Siêu. Chúng đã ra lệnh cấm lưu hành nhiều cuốn sách của ông như Tiếng sấm đêm đông, Vợ ai, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế... Ở Việt Nam vào khoảng cuối những năm 20 (của thế kỷ XX) Nguyễn Tử Siêu được đánh giá là nhà văn viết nhiều tiểu thuyết lịch sử nhất. Theo danh mục sách mà con cháu cụ hiện thống kê được thì Nguyễn Tử Siêu đã viết 34 cuốn sách văn học, 43 cuối sách y học. Tên ông đã xuất hiện thành mục từ trong từ điển như Từ điển Văn học Việt Nam, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam.
Nguyễn Tử Siêu sinh ra trong một gia đình Nho học. Ngoài viết văn và là một nhà giáo tân học đầu tiên của huyện Nguyễn Tử Siêu còn là một lương y giỏi. Là một nhà nho, một trí thức thức thời, Nguyễn Tử Siêu am tường chữ Hán và viết văn bằng chữ Quốc ngữ. Ông đã sử dụng vốn Hán tự của mình để dịch nhiều tác phẩm văn học và y học như Hán Sở tranh hùng, Tả truyện chú giải, Thuỷ Hử, Hải Thượng quyền thu, Đông y bảo giám, Châm cứu ca phú tuyên giải v.v... Ngoài ra, ông còn soạn rất nhiều sách y học để góp phần truyền bá kiến thức, giúp dân thoát khỏi tật bệnh. Có thể kể tới các cuốn sách y học như: Y học tùng thư (14 quyển), Y học toàn thư (2 quyển), Khoa thuốc trẻ em sách thuốc sởi đậu, Sách thuốc đau mắt, Châm cứu sơ bộ thực hành, Sách thuốc phổ thông, Nguyên tắc trị liệu của Đông y. Bên cạnh đó, Nguyễn Tử Siêu từng tham gia Chủ tịch mặt trận Liên Việt tỉnh Sơn Tây, Phó Chủ tịch Uỷ Ban kháng Chiến hành chính tỉnh Sơn Tây, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Hội Đông y Việt Nam các khoá I và II...
Trong 7 người con của cụ Nguyễn Tử Siêu còn sống và đang lập nghiệp ở Hà Tây, Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đắc Lắc thì hiện nay có 2 người nối nghiệp bốc thuốc Đông y. Đó là ông Nguyễn Thiện Quyến - nguyên Chủ tịch Hội Y học Cổ truyền Hà Nội - hiện vừa bốc thuốc ở Hà Nội vừa đi giảng bài và viết sách; là bà Nguyễn Thị Vân Dung từng làm ở trạm xá xã, hiện nay đã 83 tuổi vẫn dẻo dai bốc thuốc phục vụ dân làng...Và bức hoành phi làm vào thời Nguyễn "Thiện Vi Bảo" (Sống việc thiện làm quý) treo trang trọng giữa nhà thờ của gia tộc ở Hương Ngải đã thể hiện cốt cách của một con người, một dòng tộc suốt đời nặng lòng với dân với nước.
2. Cụ Nguyễn Hữu Khác - một người biết chữ Hán cổ - từng bảo với tôi rằng, căn cứ vào thần phả còn lưu lại ở làng, Hương Ngải có lịch sử hình thành khoảng chừng 2.000 năm, từ thời Đông Hán ba anh em họ liêu là Liêu Hiến Chương, Liêu Hiến Quang, Liêu Hiến Thuật đã có công trong việc lập làng. Hiện ở Hương Ngải còn giữ được 9 đạo sắc phong của các triều đại Nhà Lê, Nhà Nguyễn. So với các làng mạc trầm mình trong lòng xứ Đoài cổ thì Hương Ngải từ xưa đã nức tiếng là nơi có truyền thống hiếu học, có nhiều người đỗ đạt hiển vinh. Và đã có một thời, rất nhiều văn nhân thi nhân nước Việt sơ tán về Hương Ngải để sống để viết.
Lần này về Hương Ngải tôi vén màn mưa bụi xứ Bắc và nhận ra Hương Ngải đã có nhiều thay đổi. Vẫn là con đường độc nhất chạy xuyên từ đầu làng đến cuối làng nhưng cảnh bùn nhão dưới chân một thủa đã không còn. Con đường gạch vỉa nghiêng được ví như sống lưng con rết (còn những cái chân được toả ra từ "cái sống lưng" ấy được gọi là xóm) lúc nào cũng nhộn nhịp, tươi vui. Dọc theo cái sống lưng con rết ấy, "bộ mặt" của làng được hiện diện, những di tích lịch sử như đình, chùa, quán, văn chỉ, võ chỉ cũng đều có thể nhìn thấy. Trừ võ chỉ đã bị "nhà dân hoá" chỉ còn là dấu tích, còn thì đình làng với 1.700 năm tuổi là nơi Pháp ký văn bản bàn giao trả tỉnh Sơn Tây cho Việt Minh vẫn còn lưu giữ nhiều kỷ vật xa xưa và đặc biệt là vẫn giữ được bốn chữ "Mỹ tục khả phong" do Vua Tự Đức ban tặng. Xưa kia quán làng có nhiều cây đa cổ thụ nhưng khi đất nước thống nhất vì thiếu sự quan tâm của các cấp chính quyền và ý thức hạn chế của một số người dân nên đã bị chặt rồi bị chết. Dăm bảy năm trở lại đây quán làng mới được tu bổ, trở thành một khu vực rộng rãi, thoáng đãng để tưởng nhớ 4 chiến sĩ cách mạng là người địa phương đã bị Pháp tử hình tại đây ngày 28/5/1949.

Ở đầu làng Hương Ngải hiện còn một chiếc quán gọi là Quán Nghinh (còn gọi là Quán Nghinh Hương) với lối kiến trúc cổ và có 4 cột đá độc đáo. Theo dân làng kể lại, Quán Nghinh được trồng cây theo sao "thất tinh" là nơi "nghinh các vị thần và nghinh các vị tân khoa đỗ đạt hiển vinh về làng". Từ Quán Nghinh này rồi mới về tới đình để dân làng ra ăn mừng, chia vui. Chiến tranh, loạn lạc kéo từ thời Nhà Minh đô hộ đã làm mất nhiều thư tịnh cổ. Dù những tấm bia đá còn lưu ở Văn chỉ của làng đến Triều Nguyễn mới lập được nhưng danh sách các vị đỗ Đại khoa, Trung khoa đã được khắc ghi... Tấm Bia Đại khoa khắc ghi những tên tuổi: Liêu Hiến Chương, Liêu Hiến Quang đỗ Thái học sinh Triều Lý, Đỗ Hịch đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, Phí Thạc: Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Triều Mạc Minh Đức, Đỗ Thê: Đệ nhị giáp tiễn sĩ xuất thân Triều Lê Chính Hoà, Nguyễn Đăng Huân: Đệ nhị giáp tiễn sĩ xuất thân, Triều Nguyễn đời Vua Minh Mệnh. Các vị đỗ Đại khoa ở đất Hương Ngải đều mang tài năng học vấn của mình ra để phục vụ nhân dân, có người như cụ Đỗ Hịch làm quan đến Chưởng thượng thư Bộ Công đốc trấn tỉnh Cao Bằng, hay như cụ Nguyễn Đăng Huân làm quan đến Lang Trung Bộ Lễ... Tất cả đều sống thanh bạch, liêm khiết đến tận khi về hưu.
Bia Trung Khoa cũng còn lưu danh 50 tên tuổi như Đỗ Bách, Đỗ Mai, Phí Tuấn Thược, Phí Tuấn Ngạc, Nguyễn Đăng Vân, Nguyễn Đăng Thân v.v.. Riêng Bia Hương Hiền lại viết: "Xưa các bậc tiên sinh mất đi đều được tế ở xã, đó là lễ vậy. Làng ta xưa kia mỗi năm hai kỳ xuân - thu tế tự còn tuỳ tiện vì chưa có nơi thờ cúng. Mãi đến triều Lê Chính Hoà (1680-1705) cụ Đỗ Thái Bảo tiên sinh tự Đỗ Thụ mới hiến đất này làm nơi cúng lễ. (...) Ôi! Thờ cúng và khắc bia các vị hương hiền không dám mưu cầu vì các vị đó, mà muốn mong con cháu sau này nối tiếp truyền thống vẻ vang của các cụ đời trước mà thôi. Nếu sau này ai có chí qua đây chiêm ngưỡng mà thấy hứng khởi - đó là điều mong muốn to lớn của cả làng ta vậy".
Số người đỗ đạt ở dải đất "địa linh" này có thể còn nhiều hơn những con số mà chúng ta biết được. Cứ nhìn vào bề dày truyền thống khuyến học nơi đây phần nào giúp ta tin vào điều đó. Từ việc cấp "học điền" (thịnh hành vào triều Nhà Nguyễn) cho những người ham học tới cách sống căn cơ, chịu khó và không đầu tư kiến thiết nhà cửa để tập trung nuôi con ăn học thành người. Việc khuyến học đó đến nay vẫn được thực hiện. Ngoài "Quỹ Khuyến học" của xã thì trong từng dòng họ đều có một cách thưởng, một cách khuyến khích riêng. Và bởi vậy, trong ngôi làng Việt cổ này các xóm Thượng, xóm Cao được gọi là xóm công chức. Làng Hương Ngải còn có những ngôi nhà gỗ 200-300 tuổi vẫn giữ được lối kiến trúc cổ kính với đá ong, gạch đất. Nghe nói, từ xưa, dân Kẻ Ngái nổi tiếng là khéo tay trong việc xây nhà. Ngoài kỹ thuật, mỹ thuật người thợ Hương Ngải còn đúc kết được những chuẩn mực về nhà cổ vì thế nhiều nơi trong Xứ Đoài hễ có xây nhà hay tu sửa đình, chùa đều tìm đến đón đưa. Ngày nay, thợ mộc Hương Ngải còn có mặt trong các công trình cấp quốc gia như phục hồi Nhà Thái Học ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, làng cổ Đường Lâm, Yên Tử...
Dấu tích của làng cổ Hương Ngải dù sang thế kỷ XXI này đã mai một ít nhiều: không còn cổng làng, điếm xóm, võ chỉ... nhưng bản chất của con người nơi đây vẫn còn giữ được. Đó là sự chất phác, luôn gắng sức nuôi con ăn học thành người, là cách sống không khoa trương. Và đặc biệt, đến nay cái câu "Tương cà gia bản" của các cụ truyền lại vẫn còn nguyên giá trị.
ST
Cảm ơn bạn Nguyễn Thanh Bình đã có 1 bài viết hay về quê hương